Đề cương tuyên truyền và sinh hoạt chính trị tư tưởng kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga

Trích Đề cương tuyên truyền và sinh hoạt chính trị tư tưởng kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười  Nga của Ban Tuyên giáo Trung ương.

              Nguồn ảnh minh họa: trung tâm văn hóa Đắk Lắk

I. KHÁI QUÁT HOÀN CẢNH, DIỄN BIẾN VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

1. Hoàn cảnh, diễn biến 

– Sau cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là Chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô-viết các đại biểu công nhân và binh sĩ, đứng đầu là Xô-viết Pê-tơ-rô-grát.
– Tháng 4-1917, V.I.Lênin về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga.

– Đêm 24-10-1917 theo lịch cũ nước Nga (tức đêm 6-11-1917), khởi nghĩa vũ trang nổ ra ở Thủ đô Pê-tơ-rô-grát.

– Ngày 25-10-1917 theo lịch cũ nước Nga (tức ngày 7-11-1917), các lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở Thủ đô Pê-tơ-rô-grát. Ngày này đã được ghi vào lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại.

2. Ý nghĩa lịch sử và thời đại 

– Cách mạng Tháng Mười Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó đã xóa bỏ các giai cấp bóc lột, tư sản, địa chủ và chế độ người bóc lột người, đưa giai cấp vô sản bị áp bức, bóc lột nặng nề thành giai cấp đứng đầu và làm chủ xã hội; giải phóng nhân dân lao động, đưa người lao động từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân của đất nước.

– Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã dẫn tới sự ra đời nhà nước xã hội chủ nghĩa – nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người và làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Nó báo hiệu quá trình cải tạo thế giới theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu.

– Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra một bước ngoặt căn bản trong lịch sử loài người, từ thế giới tư bản chủ nghĩa sang thế giới xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

– Cách mạng Tháng Mười Nga đánh đổ chủ nghĩa đế quốc ở ngay “chính quốc”, đồng thời đánh vào hậu phương của nó là các nước thuộc địa của Nga Hoàng, mở ra thời kỳ vùng dậy không gì ngăn cản được của các dân tộc bị áp bức, giành độc lập, tự do, làm lay chuyển hậu phương rộng lớn của chủ nghĩa đế quốc thế giới.

– Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của những nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Thắng lợi của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một loạt nước, như: Ba Lan, Bun-ga-ri, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc, An-ba-ni, Mông Cổ, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam đã tạo nên những tiền đề thực tế cho sự ra đời của một hệ thống xã hội mà trước đó chưa từng tồn tại trong lịch sử và chỉ một thời gian ngắn sau khi ra đời – hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã đóng vai trò chi phối với nhiều quá trình quan trọng của thế giới hiện đại.

– Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa lịch sử và tính chất quốc tế vô cùng sâu rộng; không một cuộc cách mạng nào trong thời đại ngày nay lại không chịu ảnh hưởng sâu xa của Cách mạng Tháng Mười. Nó cho thấy: trong thời đại ngày nay, sự kết hợp tất yếu và tự nhiên giữa cuộc đấu tranh vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội chẳng những là mục tiêu mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội, đưa xã hội loài người tới tự do, công bằng, bình đẳng và văn minh.

II. CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Cách mạng Tháng Mười Nga đã chỉ ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đều bị thất bại vì không có đường lối cứu nước đúng đắn. Giữa lúc đó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, sau gần 10 năm bôn ba tìm con đường cứu nước đã tiếp thu được ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười.

Tháng 7-1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, nắm bắt được cốt lõi trong tư tưởng của V.I.Lênin. Nguyễn Ái Quốc đi đến nhận thức rõ ràng về con đường giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), Đảng đã khẳng định đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.

Dưới ánh sáng soi đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, với đường lối đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc; làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả; tiến hành công cuộc đổi mới đất nước  đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

Sau sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch đã và đang chống phá quyết liệt, mưu toan phủ nhận mọi thành quả Cách mạng Tháng Mười Nga và nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin càng làm nổi bật tầm vóc và ý nghĩa thời đại của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại.

2. Cách mạng Tháng Mười Nga khởi đầu sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và toàn diện của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam

Cách mạng Tháng Mười Nga đã cổ vũ nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô, đó là một nhân tố quốc tế không thể thiếu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Những bài học kinh nghiệm chủ yếu của Cách mạng Tháng Mười Nga về vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản; về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân; về thiết lập và củng cố khối liên minh công nông; về phương pháp bạo lực cách mạng; về xây dựng Nhà nước chuyên chính vô sản… đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

III. CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC TẠM THỜI LÂM VÀO THOÁI TRÀO, NGUYÊN NHÂN VÀ  BÀI HỌC 

Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bước vào thời kỳ khủng hoảng. Chỉ trong vòng 2 năm, đến tháng 9-1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và 6 nước Đông Âu đã bị sụp đổ hoàn toàn. Sự đổ vỡ cũng diễn ra ở Mông Cổ, An-ba-ni, Nam Tư.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, để lại những bài học sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam và thế giới.

1. Nguyên nhân

1.1. Nguyên nhân khách quan 

– Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, nhân dân Liên Xô đã lĩnh trách nhiệm đi tiên phong khai phá con đường mới, có tính đột phá trong việc xây dựng một chế độ xã hội mới chưa từng có trong lịch sử. Do vậy, những khiếm khuyết nảy sinh trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực là điều khó tránh khỏi.

– Những thập niên đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô đã có bước tiến vượt bậc, tạo nên nhiều kỳ tích trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, khoa học – kỹ thuật, ngoại giao… Động lực của sự phát triển mạnh mẽ ấy chính là bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, ở thời điểm nhất định xuất hiện sự trì trệ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho nhân dân lao động thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đã tạo thêm cơ hội cho các thế lực thù địch tiến công xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

1.2. Nguyên nhân chủ quan

–  Nguyên nhân sâu xa là từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô bắt đầu lâm vào tình trạng kinh tế – xã hội trì trệ, nhưng những khuyết tật của mô hình kinh tế – xã hội không được nhận thức đầy đủ và sửa chữa tích cực. Thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật chưa được khai thác tốt. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nền kinh tế tư bản. Tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm liên tục. Trên thị trường, hàng hóa giá thành cao, giá trị sử dụng thấp làm tăng thêm tình trạng mất cân đối, khan hiếm hàng hóa. Đời sống của các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn. Tình trạng quan liêu, vi phạm dân chủ và dân chủ hình thức đã làm suy giảm nhiệt tình sáng tạo của quần chúng và động lực phát triển của xã hội Xô-viết. Xu hướng dân tộc chủ nghĩa và ly khai xuất hiện. Các tầng lớp nhân dân giảm niềm tin vào Đảng, Nhà nước Liên Xô.

– Từ năm 1985, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu bắt đầu tiến hành công cuộc cải tổ nhằm khắc phục tình trạng trì trệ trong sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Trong quá trình chỉ đạo công cuộc cải tổ, các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng trong đường lối, chính sách cải tổ, đưa cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội đến bên bờ vực thẳm. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực đế quốc và phản động quốc tế tăng cường phối hợp tấn công, làm thay đổi hoàn toàn chế độ chính trị – xã hội ở Đông Âu và Liên Xô.

2. Bài học 

– Việc thay đổi chế độ chính trị – xã hội ở Đông Âu và Liên Xô đã để lại những bài học lịch sử có ý nghĩa cảnh tỉnh đối với Đảng Cộng sản, những người cách mạng cũng như quần chúng nhân dân lao động thế giới. Trong Cách mạng Tháng Mười Nga, một bài học kinh nghiệm lớn của thành công là phát huy vai trò nhân tố chủ quan trên cơ sở nắm vững các điều kiện khách quan. Các nhân tố chủ quan ở đây là sự chuẩn bị chu đáo về tư tưởng, lý luận, tổ chức và chỉ đạo thực tiễn.

– Lực lượng cách mạng quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga là công nhân, nông dân, binh lính. Liên minh chiến lược này bảo đảm cho chế độ xã hội chủ nghĩa tồn tại và phát triển. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô từ thập kỷ 70 về sau, nhất là trong cải tổ, ngày càng xa rời nguyên tắc liên minh công – nông. Khi có sự cố chính trị xảy ra, công nhân, nông dân, quân đội thờ ơ với Đảng Cộng sản, thậm chí còn xuống đường biểu tình, tham gia binh biến lật đổ chính quyền Xô-viết.

– “Giành chính quyền đã khó nhưng giữ chính quyền lại càng khó hơn”, “Cách mạng phải biết tự bảo vệ và có sức mạnh tự bảo vệ”; cơ sở xã hội tạo ra sức mạnh ấy là mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Bài học lớn từ sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội Xô-viết đã minh chứng quan điểm này của V.I.Lênin. Việc giành, giữ, bảo vệ chính quyền là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, một tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, một Nhà nước hết lòng phục vụ nhân dân.

– Việc thay đổi chế độ chính trị – xã hội ở Đông Âu và Liên Xô để lại bài học lớn về công tác tư tưởng. Những rối loạn xã hội được bắt đầu từ rối loạn thông tin và phân rã tư tưởng. Tự do báo chí, truyền thông, tự do đa nguyên ý kiến một cách vô nguyên tắc, không có sự quản lý của Nhà nước, không có định hướng tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản. Các cơ quan báo chí, truyền thông phân hóa và đảo chiều, tiến công phủ nhận thành tựu cách mạng và bôi nhọ lịch sử; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò quản lý Nhà nước Xô-viết; tiến công xóa bỏ nền tảng tư tưởng của chế độ là chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc buông lỏng quản lý trận địa tư tưởng, văn hóa, thậm chí dung túng cho sự quá khích của các lực lượng cực đoan, đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng làm rối loạn xã hội.

– Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô trong công cuộc cải tổ đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi chủ trương “phi chính trị hóa quân đội”. Sự mất phương hướng chính trị của các lực lượng vũ trang Xô-viết không chỉ góp phần quan trọng làm thay đổi chế độ chính trị – xã hội ở Liên Xô, mà còn đe dọa sự tồn vong của cả thế giới khi lực lượng này sở hữu kho vũ khí hạt nhân.

– Trong công cuộc cải tổ, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị buông lỏng dẫn đến có nhiều nhượng bộ, thỏa hiệp vô nguyên tắc với các lực lượng chống chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện cho chủ nghĩa đế quốc và phản động quốc tế câu kết với các lực lượng đối lập trong nước gây bạo loạn phản cách mạng, thực hiện thành công chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Ban Biên tập